Câu hỏi thường gặp

Ai có lỗi nếu xe sau đâm vào xe trước do phanh gấp?

Trường hợp này nhiều khi hai bên đổ lỗi nhau để bắt đền bù thiệt hại hỏng xe hoặc gây thương vong.

 

Vậy theo pháp luật, lỗi tại ai và giải quyết sao cho thỏa đáng?

Tại Điều 12 Luật Giao thông Đường bộ- 2001 có quy định như sau:

Người lái xe phải tuân thủ quy định tốc độ xe chạy trên đường.

Người lái xe phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình. Ở nơi có cắm biển báo “Cự ly tối thiểu giữa 2 xe” thì phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.


Như vậy: Người điều khiển phương tiện chạy phía sau phải. Tuân thủ quy định về khoảng cách an toàn (KCAT) xe đang chạy phía trước. Bộ GTVT quy định hiện hành (năm 2007) về khoảng cách an toàn tối thiểu giữa các phương tiện cơ giới đang lưu hành trên đường bộ, khi mặt đường khô ráo và đang chạy ở tuyến đường tốt, thoáng rộng như sau:

- Tốc độ lưu hành đến60km/h thì KCAT tối thiểu là 30m.

- Tốc độ lưu hành trên 60 đến 70 km/h thì KCAT là 35m.

- Tốc độ lưu hành trên 70 đến 80km/h thì KCAT là 45m.

- Tốc độ lưu hành trên 80 đến 90km/h thì KCAT là 55m.

Trường hợp lái xe chạy phải sau do không chú ý quan sát và xử lý không kịp thời để xe mình đâm vào xe chạy liền phía trước thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hậu quả tai nạn do lỗi của mình gây ra. Đúng là “Tiên trách kỷ - Hậu trách nhân” phải trách mình trước mới đúng, vì đã vi phạm quy định về KCAT với xe chạy phía trước.

VOV giaothong

 

Luật GTĐB 2008:
Điều 13. Sử dụng làn đường
1. Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn.
2. Trên đường một chiều có vạch kẻ phân làn đường, xe thô sơ phải đi trên làn đường bên phải trong cùng, xe cơ giới, xe máy chuyên dùng đi trên làn đường bên trái.
3. Phương tiện tham gia giao thông đường bộ di chuyển với tốc độ thấp hơn phải đi về bên phải.
Điều 14. Vượt xe
1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.
2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.
3. Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.
4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải:
a) Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái;
b) Khi xe điện đang chạy giữa đường;
c) Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái được.
5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:
a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Trên cầu hẹp có một làn xe;
c) Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;
d) Nơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;
đ) Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt;
e) Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ.
 
Theo ND 34:
Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:
a) Chuyển làn đường không đúng nơi cho phép hoặc không có tín hiệu báo trước, trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm i khoản 4 Điều này;
b) Điều khiển xe chạy tốc độ thấp mà không đi về bên phải phần đường xe chạy;
c) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h;
d) Không giảm tốc độ và nhường đường khi điều khiển xe chạy từ trong ngõ, đường nhánh ra đường chính;
đ) Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau;